Việt Nam đất nước - con người


   Văn hoá trà Việt | Mâm ngũ quả ngày Tết | Múa xoè Tây Bắc | 1000 nămThăng Long


 

 

Thăng Long - Hà Nội - Ngàn năm văn hiến

Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội

Image1-10/10/2010 tại Thủ đô Hà Nội sẽ diễn ra “Chương trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội năm 2010”. Đây là sự kiện trọng đại trong lịch sử của dân tộc, thể hiện tình cảm, đạo lý uống nước nhớ nguồn đối với các thế hệ cha ông đã có công dựng nước và giữ nước, là dịp tôn vinh các giá trị truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng của dân tộc; động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phấn đấu xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Năm 2010 cũng là Năm Du lịch Quốc gia tại Hà Nội với chủ đề “Thăng Long – Hà Nội, Hội tụ nghìn năm”, vì vậy các hoạt động kỷ niệm Năm Du lịch Quốc gia sẽ được tổ chức lồng ghép với các hoạt động kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, góp phần nâng cao vị thế của ngành du lịch thủ đô, sớm đưa Hà Nội trở thành một điểm đến du lịch hấp dẫn trong khu vực và thế giới.

 

 

 

Văn hoá trà Việt

 

Image
Truyền thuyết kể rằng: “Trà vi chi ẩm, phát hồ Thần Nông thị”. Thần Nông nếm bách thảo mà tìm ra Trà như 1 cây thuốc. Kể từ đó Trà đã gắn bó với con người như một loài cây thuốc quý có tác dụng giúp tỉnh táo, giải độc, tăng cường tuổi thọ. Đó là giai đoạn phát triển đầu tiên của Trà.

Đến thời vua Đường Minh Hoàng, với sự xuất hiện của “Trà Thần” Lục Vũ, trà từ một vị thuốc triển thành 1 nghệ thuật. “Kể từ khi Lục Vũ sinh ra, nhân gian mới biết tôn trọng Trà”. Tác phẩm “Trà Kinh” của ông, được xem là bách khoa toàn thư lâu đời nhất về Trà, ảnh hưởng vô cùng sâu rộng cho đến ngày nay. Và nghệ thuật thưởng Trà của người Trung Hoa với đại biểu là Gongfu-cha cũng đã ra đời từ đó, được xem là 1 trong những nền văn hóa Trà lâu đời nhất thế giới, đề cao chữ “Mỹ” trong nghệ thuật pha Trà.

Thế kỷ 15, trà theo chân các thiền sư về Nhật Bản và phát triển lên một tầm cao mới. Cùng với hoa đạo, thư đạo, kiếm đạo, trà cũng được người Nhật nâng lên thành Chanoyu, hay còn gọi là Trà Đạo Nhật Bản. Chanoyu lấy gốc là chữ “Đạo” và hướng đến 4 giá trị của con người : “Hòa – Kính – Thanh – Tịnh”.

Trong suốt lịch sử phát triển 4000 năm của trà, không ai biết người Việt bắt đầu uống trà từ khi nào. Chỉ biết rằng chúng ta đang sở hữu cách uống trà lâu đời nhất nhân loại. Đó là chè tươi: “…Nồi cơm nấu dở, bát nước chè xanh, ngồi vui kể chuyện tâm tình với nhau”. Chè xanh đã đi vào dân gian rất tự nhiên, nhẹ nhàng như thượng đế đã ban tặng cho người Việt từ thuở ban đầu. Thế rồi, trải qua hàng ngàn năm bị đô hộ đã cho người Việt làm quen với một nghệ thuật trà mới. Đó là trà mạn. Một phong cách thưởng trà tinh tế của người Trung Hoa. Trà mạn một thời đã trở thành thước đo giá trị nhân văn của nam thanh nữ tú ngày ấy: “Làm trai biết đánh tổ tôm, uống chè mạn hảo xem nôm Thúy Kiều”. Mãi đến thế kỷ thứ 18, người Việt mới có một nghệ thuật trà tao nhã và độc đáo của riêng mình. Đó là trà sen. Trà Sen là một nghệ thuật trà được kể lại như một truyền thuyết có thật làm ngất ngây lòng người.

ImageTrước hết là cách mà những thiếu nữ Việt Nam truyền thống ướp trà trong hoa sen. Khi hoàng hôn rải nắng vàng lên mặt hồ sen, các thiếu nữ chèo thuyền ra, chọn những bông sen đang còn hé nụ, lén bỏ vào một nhúm trà nhỏ. Sớm hôm sau, khi ánh bình minh chưa chạm tới chúng thì cácthiếu nữ lại chèo thuyền ra hái cả hoa sen đượm trà đó mang về. Trà rất thơm hương tự nhiên của đất trời trong suốt đêm dài. Cũng thế, nước pha trà được hứng từ những lá sen còn đọng trong sương sớm. Có lẽ, đây chính là thiên cổ đệ nhất trà

Cuộc sống đô thị chật hẹp không làm nản lòng người có cái thú thưởng thức trà ướp hương sen tự nhiên. Mỗi năm từ tháng tư đến tháng bảy âm lịch, nghệ nhân Hà Nội chọn những búp trà mạn trên đỉnh núi Hà Giang. Chọn những bông hoa thơm nhất dưới Hồ Tây. Trà được ướp đi ướp lại với gạo sen tổng cộng đến 7 lần. Mỗi cân trà phải ướp với hơn 1000 bông sen. Tất cả được làm hoàn toàn thủ công để tỏ tấm lòng của người ướp trà.

Đã là thiên cổ đệ nhất trà thì không thể không có một bộ trà cụ hoàn hảo. Trà cụ người Việt là sự kết hợp của ngũ hành. “Kim” là cái nồi đồng,” mộc là trà”, “thủy” là nước để pha trà, “hỏa” là bếp lò, “thổ” là bộ ấm chén. Ngũ hành là biểu thị của sự hài hòa và tròn đầy. Mỗi chén trà là kết tinh vạt vật đất trời biểu hiện qua 5 yếu tố của ngũ hành. Ngoài ra, trong bộ trà cụ bạn còn thấy thấp thoáng bóng dáng truyền thống Việt qua nồi đồng cổ, ấm Bát Tràng, gáo dừa, hoa văn chuồn chuồn điểm thủy…

ImageĐiểm độc đáo nhất của văn hóa trà Việt Nam có lẽ là khái niệm Trà Nô. Trà Nô có nghĩa là nô lệ của trà, được Tĩnh Độ Vương Trịnh Sâm khởi xướng trong “Trà nô, tửu tướng”. Uống rượu thì phải hùng dũng, oai phong như một vị tướng thắng trận. Uống trà thì phải có tác phong khiêm tốn, phục vụ của một người nô lệ. Và chúng tôi dùng từ Trà Nô để chỉ những người yêu trà, có hoài bão với trà mà chúng ta thường nhìn thấy họ dưới hình ảnh là một người pha trà. Trà nô đưa trà qua đủ 5 yếu tố của ngũ hành để có một chén trà ngon mời khách.

Người ngồi trên phản, dưới mái hiên, nhìn ra hồ sen mênh mang gió, thưởng một chén trà nóng từ tay Trà Nô. Tâm hồn thư thái, tấm lòng rộng mở, giao hòa thiên nhiên khởi đầu cho giao cảm tình người. Trà là nơi cha con gặp nhau, gia đình đoàn tụ, làng xóm xum vầy…

Tất cả sự so sánh có thể là khập khiễng, nhưng nếu triết lý của Gongfu cha là chữ “Mỹ”, Chanoyu là chữ “Đạo”, Panyaro là chữ “Giản”, thì chữ “Hòa” trong văn hóa trà Việt Nam cũng không hề kém cạnh.
(nguồn CLB TRÀ VIỆT http://www.traviet.org )

Image

 

Mâm ngũ quả trong ngày Tết của người Việt


     Mâm ngũ quả mà ta thường thấy trên bàn thờ mọi gia đình Việt không chỉ làm cho ngày Tết thêm sinh động mà còn mang nhiều ý nghĩa thiêng liêng.

Theo thuyết duy vật cổ đại, tất cả mọi vật chất đều được tạo nên bởi 5 yếu tố ban đầu gồm: kim loại (kim), gỗ (mộc), nước (thủy), lửa (hỏa) và đất (thổ) - gọi là ngũ hành. Tư tưởng này xâm nhập sâu sắc vào đời sống văn hóa của các dân tộc phương Đông. Tục lệ chưng mâm ngũ quả trên bàn thờ ngày Tết của người Việt Nam là một trong những biểu hiện của tư tưởng này.Image

Mâm ngũ quả là mâm trái cây có năm loại quả khác nhau. Tùy theo đặc điểm tự nhiên, phong tục tập quán và quan niệm, người dân mỗi vùng, miền có cách chọn các loại quả đặc trưng mang ý nghĩa riêng.

 Nếu căn cứ theo màu sắc trong triết lý phương Đông thì mâm ngũ quả phải có 5 loại quả với 5 màu khác nhau:

Đầu tiên là chuối xanh - ứng với mùa xuân (hành mộc). Nải chuối như bàn tay ngửa, hứng lấy những gì tinh túy nhất của mùa xuân để đọng thành quả ngọt; nó còn có ý nghĩa che chở, bao bọc.

Thứ hai là quả Phật thủ màu vàng – tượng trưng hành thổ nên được đặt ở giữa, trong lòng nải chuối. Phật thủ là loại quả có mười cánh múi chụm lên như 10 ngón tay nên dân gian gọi là tay Phật. Phật thủ được trưng lên bàn thờ với niềm cầu mong được bàn tay Phật trời ban phúc lộc. Nếu không tìm được Phật thủ, có thể thay bằng quả bưởi chín vàng, cũng mang ý nghĩa tương tự.  

Tiếp theo, 3 loại quả khác có các màu đỏ (ứng với mùa hạ - hành hỏa) như ớt sừng, cam - quýt chín, trứng gà, hồng…; màu trắng (ứng với mùa thu – hành kim) như roi, đào; màu đen (ứng với mùa đông – hành thủy) như mận, hồng xiêm…

Nếu như ở miền Bắc, hầu như tất cả các loại quả đều có thể bày lên bàn thờ, kể cả quả ớt mang vị cay đắng, miễn sao mâm ngũ quả trông đẹp mắt là được; thì người miền Nam lại có sự kiêng cữ. Mâm ngũ quả của người miền Nam không bao giờ có chuối, vì loại quả này tên gọi có âm giống từ “chúi”, thể hiện sự nguy khó. Quả cam cũng không được có mặt trong mâm ngũ quả ngày Tết, vì câu “quýt làm cam chịu”…

Bàn thờ là nơi trang trọng nhất trong mỗi gia đình, mỗi căn hộ, là nơi để tâm linh mỗi người ước nguyện hướng tới những gì tốt đẹp hơn. Tết nếu thiếu bàn thờ thì cái hoang tàn xô đến, niềm cô quạnh dâng đầy, và hình như ta không còn là người dân Việt nghìn năm trọng tình, hiếu nghĩa, biết ơn tiên tổ nữa. Bàn thờ có chân đèn, chân nến, đỉnh đồng, đài nước, hộp sắc vua phong, tam sự hay ngũ sự... Và ngày Tết, không thể thiếu hương sắc, hình ảnh của mâm ngũ quả.

Mâm ngũ quả làm cho quang cảnh Tết và không gian thờ cúng trong mỗi gia đình Việt thêm ấm áp, rực rỡ mà hài hòa; thể hiện sinh động ý nghĩa triết học - tín ngưỡng - thẩm mỹ, đồng thời cũng chứa đựng ước vọng của con người.


Cách bày mâm ngũ quả


Mỗi vùng có cách bày mâm ngũ quả khác nhau. Người miền Nam chuộng mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài và sung, trong khi đó người miền Bắc lại thích chuối, bưởi, đào, hồng và quýt.

Ngày Tết, hầu như gia đình nào cũng có mâm ngũ quả để chưng trên bàn thờ, bên cạnh bánh chưng xanh, lọ hoa, nến. Năm loại quả, mỗi quả một dáng vẻ và màu sắc riêng, hợp lại thành bức tranh sống động, vui mắt. Mỗi vùng, miền có cách trình bày mâm ngũ quả khác nhau.

Miền Nam

Với triết lý “cầu vừa đủ xài sung túc”, người miền Nam chuộng năm loại quả là mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài và sung. Nếu muốn bày một mâm ngũ quả kiểu Nam bộ, bạn cần chuẩn bị các loại quả này.

Image

Người ta thường chọn ba loại quả có hình dáng to và trọng lượng nặng là đu đủ, dừa, xoài đặt lên mâm trước để lấy thế. Sau đó, bày những quả khác chèn lên, để tạo thành một ngọn tháp.

Miền Bắc

Chuẩn bị: Chuối, bưởi, đào, hồng, quýt.

Trình bày: Cách trình bày truyền thống sẽ là nải chuối được đặt dưới cùng, ở giữa để đỡ lấy toàn bộ các trái cây khác. Quả bưởi đặt giữa nải chuối, xung quanh là hồng, quýt, đào bày đan xen vào nhau.

Image

Ngoài ra, bạn cần tham khảo vài cách chọn quả sau đây:

- Chọn quả đang xanh hoặc chín cây để chưng được lâu.
- Không nên rửa quả vì khi dính nước, quả sẽ mau héo.
- Chọn quả chắc, không trầy, còn cuống và lá để mâm quả sum suê.
- Với dưa hấu, nếu muốn biết quả ngon hay không, bạn búng tay vào vỏ dưa. Âm thanh trầm, nghe bịch bịch tức quả chưa bị nẫu. Quả quýt lõm phía dưới thường ngọt hơn. Quả bưởi tươi, ngon thường chắc, nặng.


 (nguồn: Vitinfo - Tiepthi & Giadinh  )

Image

 

 

Múa xoè Tây Bắc
 


Múa xòe là một sinh hoạt văn hoá đặc sắc, một điệu múa phổ biến trong cộng đồng người Thái Tây Bắc. Múa xòe còn có tên khác là "Xe khăm khen" (múa cầm tay). Múa xòe biểu hiện sự đoàn kết thân thiện gắn bó, có tính tập thể, dân chủ cao, nên mọi người Thái đều biết múa xòe và yêu thích nghệ thuật xòe của dân tộc. Múa xòe là di sản văn hoá quý giá của người Thái có sức sống bền vững trong nhân dân.
Người Thái quan niệm: "Không xòe không tốt lúa, không xòe thóc cạn bồ".

Múa xòe là biểu tượng tình yêu của dân tộc Thái, từ yêu cuộc sống lao động cần cù, đến tình yêu đôi lứa? người Thái tổ chức múa xòe trong hội xuân, hội mùa, hội cưới?

Trong những đêm hội xòe với ngọn lửa hồng ở chính giữa, lửa bập bùng mờ tỏ càng tăng sự huyền ảo và sôi động của đêm hội. Các cô gái Thái trẻ trung duyên dáng thắt đáy lưng ong, trang phục thổ cẩm, khăn piêu e lệ, dáng người thon thả trong tấm áo lung linh đôi hàng cúc bạc như con bướm trắng uyển chuyển bước trong điệu múa. Khi có tiếng trống giục giã, tiếng chiêng nổi lên, tiếng khèn, tiếng đàn ngân rung thì khách đứng ngoài vòng xòe cũng bất giác dậm chân nhún nhẩy vui vẻ tham gia nhảy múa không phân biệt già, trẻ, trai, gái.

Cuộc sống hằng ngày được các nghệ nhân dân gian cách điệu nâng lên thành các điệu múa: phát rẫy, trồng lúa, quay xa dệt vải, hoa thơm bướm lượn? Xòe Thái có các điệu chính như: vòng tròn vỗ tay, tung khăn, tiến lùi, nâng khăn mời rượu? Mỗi điệu xòe đều có vẻ độc đáo riêng nhưng rất giản dị, đại chúng, ai cũng tham gia được.

Những đêm hội xòe khách rạo rực nồng nàn và xao xuyến. Vòng xòe như bông hoa nhiều mầu sắc. Nhạc điệu thúc giục, lời ca tha thiết gọi mời: (dân ca Thái). Khách bị cuốn vào vòng xòe, cầm tay các cô gái Thái, lướt trong vũ điệu ngất ngây. Tất cả đều xốn xang trong nhịp trống rung, trong mỗi bước xòe.

 Yến Thanh (nguồn: VietnamNet)
 

Image

 

 

Image

Home | Service | AGB | Impressum | Über uns | KontaktUnser Gästebuch | Forum| Stellenangebot

 

Kim Nguyen - Vietnam Tours                Find us on Facebook

Schwanthalerstr. 60, 80336 München       
Tel.: +49 - (0)89 - 5384 9640  
Fax: +49 - (0)89 - 5384 9642

Text Size

Current Size: 100%

Vietnam per Satellite

There are currently 0 users and 9 guests online.